blog

CHUYÊN ĐỀ KỸ NĂNG SỐNG

NỘI DUNG

I/ĐẶT VẤN ĐỀ:

2.1.Tầm quan trọng của việc giáo dục và rèn luyện kỹ năng sống đối với học sinh:

Kĩ năng sống là một trong những khái niệm được nhắc đến nhiều trong thời đại ngày nay. Có nhiều quan niệm về kĩ năng sống. Theo tôi, kĩ năng sống đơn giản là tất cả những điều cần thiết chúng ta phải biết để có thể thích ứng với những thay đổi diễn ra hằng ngày trong cuộc sống. Kĩ năng sống được hình thành theo một quá trình, hình thành một cách tự nhiên qua những va chạm, những trải nghiệm trong cuộc sống và qua giáo dục mà có. Có nhiều nhóm kĩ năng sống như: nhóm kĩ năng nhận thức, nhóm kĩ năng xã hội và nhóm kĩ năng quản lí bản thân…Dù là kĩ năng nào cũng đều rất quan trọng và cần thiết với mỗi con người. Cho nên, giáo dục kĩ năng sống cho học sinh có một tầm quan trọng hơn cả.

2.2. Thực trạng hiện nay:

Từ nhiều năm về trước, công tác dạy học trên miền núi thuộc vùng dân tộc thiểu số gặp nhiều khó khăn. Trong đó việc trực tiếp giảng dạy, truyền đạt giúp các em nắm bắt, lĩnh hội kiến thức là một vấn đề cực kì khó khăn. Đặc biệt với các em học sinh tiểu học do bất đồng ngôn ngữ, các em chưa hiểu tiếng phổ thông dẫn đến phải dùng truyệt để các đồ dùng trực quan, hay giáo viên phải dùng các hành động kí hiệu… để giúp các em hiểu như kiểu dạy khiếm thính. Do đó nẩy sinh và tồn tại ở các em học sinh vùng dân tộc thiểu số những biểu hiện rụt rè, ngại xã giao, chia sẻ với thầy cô và mọi người. Hai vấn đề đó gây khó khăn trở ngại lớn trong học tập, giao tiếp và việc dạy dỗ của giáo viên đối với các em. Hiện nay Bộ Giáo dục – Đào tạo chủ trương dạy kĩ năng sống là một trong những tiêu chí đánh giá “Trường học thân thiện – học sinh tích cực”. Đặc biệt trường đang giảng dạy theo chương trình học tập kiểu mới, khác hẳn với chương trình hiện hành. Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, các em tự trải nghiệm, tự khám phá, chia sẻ và đúc kết để đạt được mục tiêu khám phá nội dung kiến thức cần lĩnh hội được. Từ đó, các em đã dần dần tự hình thành những kiến thức, năng lực và phẩm chất thông qua giao tiếp bằng ngôn ngữ hội thoại, bằng hành vi ứng xử văn hoá. Ngoài năng lực, phẩm chất cơ bản còn giúp cho các em biết chào hỏi, thưa gửi, tạm biệt, cảm ơn và xin lỗi… với mọi người.

2.3. Lý do chọn sáng kiến:

Dưới mái trường học theo mô hình trương học mới, các em đã hoà mình trong một môi trường giáo dục đa chiều, học được nhiều điều hay, lẽ phải và nhà trường trở nên là ngôi nhà thân thiện, học sinh tích cực học tập để có khả năng hội nhập cao, từng bước trở thành công dân toàn cầu. Với học sinh Tiểu học, đây là giai đoạn đầu tiên hình thành nhân cách cho các em, giúp các em có một kĩ năng sống tốt cho tương lai sau này và đây cũng là một vấn đề mà nhà trường, xã hội và phụ huynh hết sức quan tâm. Xác định tầm quan trọng đó tôi đã chọn sáng kiến “Một số giải pháp rèn kỹ năng sống cho học sinh trường tiểu học Trương Định năm học 2019 – 2020”.

2.4 Giới hạn nghiên cứu sáng kiến:

– Đối tượng nghiên cứu là học sinh tiểu học của Trường tiểu học Trương Định.

– Phạm vi nghiên cứu: Trên phạm vi Trường tiểu học Trương Định.

– Đề tài: “Một số giải pháp rèn kỹ năng sống cho học sinh trường tiểu học Trương Định năm học 2019 – 2020”.

2.5. Điểm mới của sáng kiến:

Sáng kiến kinh nghiệm này tuy đã có nhiều đồng nghiệp nghiên cứu nhưng ở mỗi vùng miền, mỗi trường học, mỗi lớp học có đối tượng học sinh, điều kiện học tập khác nhau. Bản thân tôi căn cứ vào kinh nghiệm thực tế, chuyên đề về đổi mới sinh hoạt chuyên môn, chuyên đề về đổi mới đánh giá học sinh, đổi mới phương pháp dạy học áp dụng mô hình trường học mới.

Sáng kiến chủ yếu thể hiện:

+ Tìm hiểu thực trạng về kĩ năng sống của học sinh.

+ Đề cập đến một số giải pháp cụ thể về rèn kĩ năng sống của học sinh.

III. PHẦN NỘI DUNG

1. Thực trạng về kĩ năng sống của học sinh

– Đầu năm học sinh thường tỏ vẻ rụt rè, nhút nhát khi giáo viên gọi trả lời câu hỏi, không mạnh dạn giơ tay phát biểu xây dựng bài, ngại phát biểu trước đông người. Các em chưa thể hiện được tinh thần thi đua trong học tập, vào lớp thường không thuộc bài và làm bài, không mạnh dạn nhận xét góp ý xây dựng bài.

– Học sinh thường quên chuẩn bị sách vở, đồ dùng học tập. Một số học sinh vi phạm các nội quy của trường như trang phục, đầu tóc, vệ sinh thân thể, ăn quà vặt,…

– Phần lớn học sinh vẫn còn mang tính thụ động chưa có tính tự giác cao, thiếu tính năng động và sáng tạo, tâm lí ỷ lại và trông chờ vào phụ huynh và giáo viên chủ nhiệm.

– Hội đồng tự quản, các ban trong lớp chưa thật sự hiểu rõ được nhiệm vụ của mình và cũng chưa phát huy khả năng tốt việc tự quản lớp.

– Các em chưa thực sự tự giác thực hiện theo yêu cầu nhóm, lớp và của cả giáo viên.

– Việc bố trí thời gian học tập và sinh hoạt chưa phù hợp; kết quả về học tập cũng không đồng đều.

– Thời gian sinh hoạt 15 phút đầu giờ, các hoạt động tập thể,…các em chưa tập trung hoạt động, nói chuyện riêng, làm việc riêng, chưa chịu khó hợp tác.

– Một số em có ý thức, nhưng chưa bền thường biểu hiện: khi có mặt của giáo viên thì tỏ ra nghiêm túc nhưng khi vắng mặt giáo viên hoặc Hội đồng tự quản của lớp thì vẫn còn làm việc riêng,…

– Ở trường cũng như ở nhà, các em hầu như hoàn toàn thiếu sự sáng tạo, luôn ỷ lại, phụ thuộc vào người lớn; mỗi khi gặp các tình huống trong thực tế thì lúng túng không biết xử lý thế nào… Thậm chí, có một số em, phụ huynh chỉ biết phàn nàn với giáo viên chủ nhiệm hoặc bảo mẫu rằng: Ở trường các em có thể tự ăn, tự thực hiện một số thao tác cá nhân đơn giản nhưng khi về đến nhà thì không chịu làm gì, chỉ có học và chơi, không quan tâm đến ai; đến bữa cơm được dọn sẵn, ăn xong đi về phòng riêng chơi game, không bao giờ dọn dẹp bát đũa; ngủ dậy không biết gấp chăn gối, không biết tự đánh răng, chuẩn bị tập vở; không biết phụ giúp bố mẹ dù những việc đơn giản như: Rót nước, nhặt rau, lau bàn…

Theo tôi nghĩ những thực trạng trên xuất phát từ những nguyên nhân sau:

Một là giáo viên thường chỉ quan tâm đến thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng trong quá trình dạy học. Tư tưởng nhận thức của phụ huynh học sinh lẫn học sinh cũng chỉ tập trung làm sao học sinh nắm kiến thức bài học là chủ yếu, còn các nội dung khác trong đánh giá học sinh vẫn chỉ là nội dung phụ, không quan trọng.

Hai là tiết sinh hoạt cuối tuần còn mang tính hình thức, chủ yếu là giáo viên nhận xét và thông báo kế hoạch cho tuần tới. Việc học sinh tự điều hành tiết sinh hoạt lớp chưa tốt nên kĩ năng tự phục vụ, tự quản của học sinh không được nâng cao.

Ba là các em được sự quan tâm chăm sóc hết sức chu đáo của phụ huynh vì sống trong gia đình ít con, hoàn cảnh kinh tế ổn định; những em sống trong gia đình khó khăn, phụ huynh bỏ mặc con cái giao phó cho nhà trường. Chính môi trường hoàn cảnh khác nhau ấy lại mang đến cho các em những thiếu sót lớn trong KNS, nhất là trong kỹ năng tự phục vụ bản thân.

Bốn là các ban ngành đoàn thể có quan tâm nhưng chưa đầu tư đúng mức; CNTT quá phát triển làm ảnh hưởng đến kỹ năng tự phục vụ của các em.

2. Các giải pháp rèn kĩ năng sống cho học sinh

2.1 Biện pháp 1: Phổ biến và hướng dẫn các việc làm cụ thể:

Phổ biến cho phụ huynh và học sinh nội dung Thông tư 30 và Thông tư 22 giúp các em biết các nội dung cần thực hiện để phục vụ cho việc đánh giá từ đó các em sẽ cố gắng phấn đấu phát triển năng lực của bản thân.

Tìm các minh chứng cụ thể cho từng nội dung đánh giá để các em rõ hơn khi thực hiện. Sau đó, giáo viên phân tích, hướng dẫn từng cá nhân, nhóm, lớp thực hiện.

Ví dụ:

+ Vệ sinh thân thể, ăn, mặc: tắm rửa sạch sẽ, cắt móng tay móng chân, tóc cắt ngắn, ăn uống từ tốn, trang phục sạch sẽ, gọn gàng, …

+ Chuẩn bị đồ dùng học tập ở lớp, ở nhà: đến lớp có đầy đủ dụng cụ học tập theo thời khoá biểu và theo bộ môn,…

+ Các việc theo yêu cầu của giáo viên, làm việc cá nhân, làm việc theo sự phân công của nhóm, lớp: thực hiện các yêu cầu học tập, tích cực cùng nhóm thảo luận bài học hay vệ sinh, trang trí lớp học theo phân công của nhóm lớp một cách tự giác,…

– Giáo viên khéo léo đưa các nội dung Thông tư vào nội quy lớp học, Điều em cần nhớ, các khẩu hiệu trang trí lớp học,…để những điều đó luôn hiện ra trước mắt các em khi đến lớp, qua đó nhắc nhở các em luôn phải thực hiện theo quy định.

2.2 Biện pháp 2: Thu thập thông tin cá nhân của từng học sinh

Vào đầu năm học, khi phân công chủ nhiệm lớp, tôi phổ biến toàn bộ giáo viên phải phối hợp với nhau để nắm bắt tình hình chung, tình hình của từng học sinh, thông qua Sổ chủ nhiệm, Sổ học bạ để xem kết quả tổng hợp đánh giá cuối năm.

Nắm bắt thông tin học sinh qua phiếu điều tra cơ bản sau:

THÔNG TIN HỌC SINH

Họ và tên : ………………………………………………Lớp:…………………………………..

Ngày, tháng, năm sinh :……………………………………………………………………… Địa chỉ :…………………………………………………………………………………..

Họ và tên bố:………………………………………… Nghề nghiệp :…………………….

Họ và tên mẹ :………………………………………. Nghề nghiệp :…………………….

Trong nhà có ….. người con. Em là con thứ ………. trong nhà.

Môn học yêu thích :…………………………Lí do:…………………………

Môn học không yêu thích :………………….Lí do………………………….

Em mong ước gì khi ở lớp: …………………………………………………………………..

Tham khảo kết quả đánh giá của phụ huynh: (Đánh dấu X vào cột Đạt hoặc Chưa đạt)

Họ và tên HS:…………………………………………….. LỚP:……………

Số TT

Nội dung thực hành kĩ năng sống ở cộng đồng

Đạt

Chưa đạt

Ký tên

1

-Biết tự phục vụ, tự tin, tự trọng…

2

-Biết giao tiếp, ứng xử với cộng đồng…

3

  1. chăm sóc, giúp đỡ mọi người.

4

-Yêu thích, chăm sóc thiên nhiên, vườn cây…

5

-Biết tham gia trò chơi dân gian, lễ hội…

6

-Biết phòng tránh tai nạn khi ở nhà …

7

ĐÁNH GIÁ CHUNG

Sau khi nắm bắt thông tin học sinh thông qua phiếu điều tra cơ bản, cần tập hợp các thông tin mà các em đã viết. Từ việc làm này, giúp giáo viên phần nào hiểu được hoàn cảnh, biết được các em yêu thích cái gì nhất, có nguyện vọng điều gì ?… Từ đó đưa ra giải pháp cụ thể để hướng dẫn các em.

2.3. Biện pháp 3: Tạo sự gần gũi và mối quan hệ thân thiện với học sinh:

Phối hợp chỉ đạo giáo viên, sau khi nhận lớp, để tạo sự gần gũi, gắn kết giữa học sinh và giáo viên, GVCN cần sắp xếp nhiều thời gian để học sinh tự giới thiệu để làm quen với các em, động viên khuyến khuých các em cùng chia sẻ về những sở thích cá nhân, về ước mơ tương lai cũng như mong muốn của GV đối với lớp học. Đây là hoạt động giúp thầy trò hiểu nhau, đồng thời tạo một môi trường học tập thân thiện – Là nơi trường học trở thành một mái nhà chung, mái nhà thứ hai của các em mà các thầy cô là cha mẹ, người thân luôn gần gũi, yêu thương và dìu dắt các em. Đây là một điều kiện theo tôi là rất quan trọng và cần thiết ban đầu gây sự chú ý, mến mộ với các em để khả năng phát triển giao tiếp của học sinh. Bởi vì học sinh không thể mạnh dạn, tự tin trong môi trường gò bó, áp đặt của giáo viên.

Tiếp theo GV cho học sinh tự do lựa chọn vị trí ngồi của mình để qua đó phần nào nắm được đặc điểm tính cách của các em: Mạnh dạn hay nhút nhát; thụ động, thích thể hiện hay lãng mạn…Và chú ý quan sát những biểu hiện về thái độ học tập, những cử chỉ, hành vi tại vị trí ngồi mà các em chọn để bắt đầu có điều chỉnh phù hợp.Việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh có thể thực hiện trong bất cứ lúc nào, giờ học nào.

2.4. Biện pháp 4: Sự gương mẫu giáo viên.

Hành vi của giáo viên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lí cũng như sự hình thành tính cách của học sinh. Vì vậy, trong các buổi sinh hoạt chuyên môn, tôi luôn nhắc nhở giáo viên, khi lên lớp cần chú đến cả cách đi đứng, nói năng, cách ăn mặc, cách cầm sách, chữ viết, thái độ,…để học trò noi theo.

Giáo viên chủ nhiệm có sắp xếp khoa học công việc của mình thì sẽ là một gương sáng thuyết phục các em học sinh có thói quen tổ chức việc chuẩn bị đồ dùng, sắp xếp góc học tập, cặp đi học, bàn học,… của mình khoa học hơn. Bàn giáo viên phải có khăn bàn, lọ hoa, hộp đựng bút và được xếp ngay ngắn.

Hình ảnh một giáo viên luôn chủ động trong giảng dạy kiến thức, sử dụng tốt đồ dùng dạy học trên lớp sẽ giúp học sinh tin tưởng giáo viên hơn. Vì vậy, mỗi giờ dạy, giáo viên phải nghiên cứu kĩ nội dung, chuẩn bị các hình thức tổ chức cũng như sử dụng đầy đủ các đồ dùng dạy học. Có như vậy, tiết học sẽ sinh động hơn. Học sinh sẽ thấy việc mình chuẩn bị nội dung học tập, đồ dùng học tập cho tiết học góp phần tạo thành công trong tiết học. Từ đó, các em sẽ noi gương theo sự chuẩn bị chu đáo của giáo viên.

Như vậy, thông qua hình ảnh đẹp của giáo viên, học sinh sẽ noi gương thực hiện tốt hơn hình thức của mình cũng như chú ý hơn đến sắp xếp đồ dùng sách vở của mình trên lớp cũng như ở nhà, chuẩn bị tốt bài vở, đồ dùng học tập trước khi đến lớp.

Ngoài ra, giáo viên chủ nhiệm phải làm tốt công tác chủ nhiệm mà nhà trường phân công, thường xuyên thay đổi các hình thức sinh hoạt lớp, luân phiên nhau cho các em làm lớp trưởng, tổ trưởng, không nên trong năm học chỉ để một em làm lớp trưởng. Với học sinh tiểu học, thầy cô giáo là người mẹ hiền thứ hai của các em, các em luôn luôn nghe lời dạy bảo và làm theo những gì thầy cô dạy, thầy cô giáo phải là tấm gương sáng về đạo đức, nhất là tấm gương về các ứng xử văn hóa, chuẩn mực trong lời nói và việc làm. Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh sẽ khó hơn khi chính thầy cô không phải là một tấm gương

2.5. Biện pháp 5: Rèn kỹ năng sống hiệu quả qua việc tích hợp vào các môn học:

Để giáo dục kĩ năng sống cho học sinh có hiệu quả, tôi chỉ đạo giáo viên vận dụng triệt để vào các môn học, tiết học, nhất là các môn học mình được phân công giảng dạy, như: Khoa học, Địa lí .Trong chương trình lớp 4 và 5, ở môn Khoa học, Địa lí phần lớn chương trình dành cho kiến thức khám phá tự nhiên. Ở phần này, tôi chủ động đem đến cho các em về các kĩ năng là từ việc nhỏ nhất:

-Ý thức giữ gìn vệ sinh cá nhân

-Ý thức giữ gìn và bảo vệ môi trường xanh, sạch, đẹp.

-Kỹ năng ứng xử, giao tiếp, hợp tác.

-Kỹ năng tự phục vụ, tự quản lý, tự tin.

-Kỹ năng phòng tránh tai nạn khi ở nhà, ở trường…

Ví dụ, như : Về ứng xử, hợp tác và giao tiếp, tự tin và tự trọng

Để hình thành các kĩ năng này và được phát triển từ dễ đến khó. Sau bài học các em đã được trải nghiệm ở lớp dưới là những bài học như khám phá bản thân, tư duy hiệu quả và đặc biệt là kĩ năng làm việc đồng đội. Trong giờ học, giáo viên luôn tạo không khí thân thiện, áp dụng việc đổi mới phương pháp tạo điều kiện cho các em mạnh dạn, tự lập, tự tin, tự khẳng định và phát huy mình hơn qua việc học nhóm. Để đạt được việc đó, tôi tổ chức phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, bộ phận hoạt động NGLL và phụ huynh để rèn luyện cho các em hình thành những thói quen ứng xử đức độ, văn hoá với thầy cô giáo, bạn bè, gia đình và cộng đồng. Đặc biệt, tôi xem việc giáo dục từ các môn học Đạo đức lối sống là nền tảng của các em đã hình thành ở các lớp 1; 2; 3 mà các em đã trải nghiệm. Dựa trên đà phát triển đó, tôi cùng Ban hoạt động NGLL xây dựng chương trình hành động là: “ Làm việc tốt, nói lời hay”. Ở phần này, các em càng hứng thú khi được bày tỏ những ý kiến, những suy nghĩ non nớt đầy hồn nhiên mà chân thật thông qua những cuộc hội thoại vui vẻ và sôi nổi về chủ đề trên. Sau một thời gian theo dõi việc làm trên, tôi tự đánh giá là: Không có đứa trẻ nào không biết bày tỏ ý kiến chân thật, không có đứa trẻ nào có thể rụt rè nếu giáo viên biết gợi mở, khích lệ động viên tinh thần cho các em thoải mái trong học tập, sinh hoạt… dần dần các em thích nói nhiều hơn, hành xử đúng hơn trong cuộc sống. Ngoài ra, cho học sinh chuẩn bị những hộp thư: Cảm ơn, xin lỗi, chúc mừng… và tổng kết lại vào cuối mỗi tuần. Em nào nhận được nhiều lời cảm ơn nhất sẽ được tuyên dương. Không những vậy giáo viên còn tổ chức cho các em trao đổi :

– Em nói lời cảm ơn, xin lỗi khi nào? Chúc mừng bạn khi nào?

– Bạn đã cảm ơn em về điều gì? Em cảm thấy như thế nào khi được bạn cảm ơn, xin lỗi?… qua đó các em sẽ bộc lộ những suy nghĩ của mình.

Từ việc làm đó mà hiện nay, trong các lớp học, giáo viên không còn ngạc nhiên bởi các câu “Cảm ơn”, “Xin lỗi” của các em. Hay bất cứ ở đâu, nơi nào, gặp các em đều khoanh tay chào thầy, chào cô mà ngày cách đây không xa, các câu đó chưa bao giờ nghe được từ các em học sinh nơi đây. Đó là cả một quá trình, cả một sự phấn đấu và sự hợp tác rèn luyện được thầy cô giáo giúp đỡ, nhen nhóm cho các em và dần hình thành thói quen, thành kĩ năng sống tốt cho các em hôm nay và mai sau.

Rèn kĩ năng sống có hiệu quả còn được giáo viên vận dụng khá nhiều trong các môn học thông qua xử lí tình huống hay các trò chơi học tập có nội dung gần gũi với cuộc sống hằng ngày của các em. Chẳng hạn, giáo viên đã giáo dục các em thông qua việc ôn lại một số bài học của các môn: An toàn giao thông, Tự nhiên và xã hội, hướng dẫn các em phòng chống tai nạn giao thông và các dạng tai nạn thương tích khác bằng cách đưa ra những tình huống cho các em xử lí, như:

– Đi bộ qua đường em phải đi chỗ nào? Đối với đường trên địa phương chúng ta, em nên đi như thế nào?

– Khi đi bộ em đi ở đâu? Nếu đường không có vỉa hè thì thế nào?

– Khi ngồi trên xe máy em phải như thế nào? Em hãy nêu cách đội mũ bảo hiểm? Nêu sự cần thiết phải đội mũ bảo hiểm?

– Em cần tắm rửa ở những chỗ nào cho an toàn?

– Không được ở những nơi như thế nào? …

2.6. Biện pháp 6: Phối hợp chặt chẽ với Đoàn độivà Phụ huynh học sinh.

Các tổ chức trong nhà trường, đặc biệt là đội, luôn có tác động tới học sinh. Việc kiểm tra, đánh giá nề nếp tác phong hàng ngày (qua đội cờ đỏ), kiểm tra hàng tuần của Tổng phụ trách, các em sẽ có ý thức thực hiện tốt để không ảnh hưởng đến thi đua của lớp. Chỉ đạo tổ chức tốt các buổi chào cờ đầu tuần. Do đó, ngoài mục tiêu buổi chào cờ là đánh giá xếp loại nền nếp, học tập, các hoạt động giáo dục trong tuần qua, triển khai kế hoạch tuần tới, trong buổi chào cờ của nhà trường luôn được thay đổi hình thức sinh hoạt một cách sáng tạo, nhằm rèn luyện các kỹ năng cho học sinh. Chẳng hạn như để các em được thay mặt lớp trực đánh giá, nhận xét thêm phần giao lưu với toàn trường qua các tiết mục văn nghệ, kể chuyện, câu đố, trò chơi, kể chuyện tấm gương Bác Hồ vào thứ hai hàng tuần…do chính các em đứng ra tổ chức dưới sự giúp đỡ và hướng dẫn của giáo viên chủ nhiệm.

Phối hợp với cha mẹ học sinh để cùng trao đổi nắm vững tình hình học tập và thói quen, hành vi đạo đức của các em ở lớp và ở nhà. Trong các cuộc họp phụ huynh hoặc liên hệ, khuyến khích phụ huynh hướng dẫn hoặc kiểm tra con em mình thực hiện các nề nếp tập trung vào rèn một số kĩ năng, như:

+ Tích cực hướng dẫn con em mình tự làm một số việc để phục vụ bản thân như đánh răng, rửa mặt, gấp chăn màn, mặc quần áo, sắp xếp sách vở và đồ dùng học tập,… phù hợp với lứa tuổi;

+ Hằng ngày kiểm tra sách vở của con em mình; nhắc nhở con em chuẩn bị các nội dung học tập ngày mai, sách vở và đồ dùng học tập trước khi đến lớp;

+ Giáo dục con ý thức gọn gàng, ngăn nắp khi học tập, vui chơi; sinh hoạt điều độ, đúng thời gian biểu, giờ nào việc nấy, tránh tình trạng vừa học vừa chơi, tự phân bố thời gian học tập, sinh hoạt khi không có người lớn,…

– Giáo viên thông báo kịp thời qua thư trao đổi, điện thoại hoặc đến nhà, trao đổi trực tiếp về sự tiến bộ của các em nên cũng giúp cho các em tự giác thực hiện tốt các yêu cầu, từng bước nâng cao kĩ năng sống cho các em.

2.7. Biện pháp 7: Động viên khích lệ và khen thưởng kịp thời:

Theo tôi, dù là sử dụng hình thức hay phương pháp nào để rèn kĩ năng sống cho các em thì việc nêu gương, khen thưởng đóng một vai trò quan trọng. Bởi vì, tâm lý của học sinh tiểu học rất thích được khen, thích được động viên.

Để động viên, khuyến khích học sinh thực hiện tốt việc rèn luyện các kĩ năng, giáo viên đưa ra kế hoạch rèn luyện cho các em học sinh được phân công phụ trách, theo dõi và giáo dục về tình cảm, môi trường sống. Thường trao đổi với Ban đại diện cha mẹ học sinh để phối kết hợp giúp đỡ những em còn gặp khó khăn, cùng phối hợp và dành một khoảng riêng để khen thưởng kịp thời động viên các em để tạo cho các em có một động cơ tốt trong việc duy trì thực hiện. Giáo viên cần có số theo dõi hằng ngày đề ghi vào sổ các em có biểu hiện tốt, trong tiết sinh hoạt cuối tuần cho các em bình chọn những bạn thực hiện tốt sẽ được “vinh danh tấm gương xuất sắc” của lớp để biểu dương, khen thưởng các em. Giúp các em rất vui và hãnh diện khi được tặng những bông hoa điểm tốt và những món quà của thầy cô giáo tặng. Từ đó các em không ngừng thi đua cố gắng thực hiện tốt để được nhận những phần thưởng mà thầy, cô giáo và cá bạn vinh danh. Đây là một hình thức động viên về tinh thần rất giá trị và hiệu quả. Các em sẽ nhanh nhẹn hơn, có đạo đức tốt hơn, mạnh dạn hơn trong giao tiếp, tự tin hơn trong cuộc sống.

IV/ Kết quả thực hiện:

Qua việc thực hiện các biện pháp trên, đến giữa học kì II, tôi phối hợp với giáo viên chủ nhiệm thu thập qua phiếu thăm dò về đánh giá một số nội dung thực hành kĩ năng sống của học sinh, cụ thể theo mẫu như sau:

1. Kết quả đánh giá của Giáo viên chủ nhiệm: (Đánh dấu X vào cột Đạt hoặc Chưa đạt)

Họ và tên HS:…………………………………………….. LỚP:…………………

Số TT

Nội dung thực hành kĩ năng sống ở cộng đồng

Đạt

Chưa đạt

Ký tên

1

  1. tự phục vụ, tự tin, tự trọng.

2

-Biết giao tiếp, ứng xử với cộng đồng.

3

  1. chăm sóc, giúp đỡ mọi người.

4

-Yêu thích, chăm sóc thiên nhiên, vườn cây…

5

-Biết tham gia trò chơi dân gian, lễ hội…

6

-Biết phòng tránh tai nạn khi ở nhà

7

ĐÁNH GIÁ CHUNG

2. Kết quả đánh giá của phụ huynh: (Đánh dấu X vào cột Đạt hoặc Chưa đạt)

Họ và tên HS:…………………………………………….. LỚP:…………………

Số TT

Nội dung thực hành kĩ năng sống ở cộng đồng

Đạt

Chưa đạt

Ký tên

1

-Biết tự phục vụ, tự tin, tự trọng…

2

-Biết giao tiếp, ứng xử với cộng đồng…

3

  1. chăm sóc, giúp đỡ mọi người.

4

-Yêu thích, chăm sóc thiên nhiên, vườn cây…

5

-Biết tham gia trò chơi dân gian, lễ hội…

6

-Biết phòng tránh tai nạn khi ở nhà …

7

ĐÁNH GIÁ CHUNG

*Cách đánh giá:

– Đánh giá được từ 3 tiêu chí trở lên: Đạt

– Đánh giá được từ 2 tiêu chí trở xuống: Chưa đạt

3. Phiếu tổng hợp chung của trường: (Được tổng hợp từ phiếu đánh giá của giáo viên và phụ huynh %)

STT

TSHS toàn trường

TSHS được đánh giá

Nội dung các tiêu chí

HK I

HK II

Đạt

Chưa đạt

Đạt

Chưa đạt

SL

TL

SL

TL

SL

TL

SL

TL

01

72%

28%

98.4%

1.6%

4. Kết quả trên nhà trường HK II:

  • 100% học sinh đều được cô giáo và cha mẹ tạo mọi điều kiện khuyến khích khơi dậy tình tò mò, phát triển trí tưởng tượng, năng động, mạnh dạn, tự tin. 100% học sinh được rèn luyện khả năng sẳn sàng học tập ở trường phổ thông hiệu quả ngày càng cao.

– 100% học sinh có thói quen lao động tự phục vụ, được rèn luyện kỹ năng tự lập; kỹ năng nhận thức; kỹ năng vận động nhỏ, vận động tinh thông qua các hoạt động hàng ngày trong cuộc sống của học sinh ; ngoài ra có 70% học sinh được rèn kỹ năng tự kiểm soát bản thân, phát triển óc sáng tạo, tính tự tin thông qua các hoạt động năng khiếu vẽ, thể dục , và các môn học khác .

-100% trẻ được rèn luyện kỹ năng xã hội; kỹ năng về cảm xúc, giao tiếp; chung sống hòa bình, và tuyệt đối không xảy ra bạo hành trẻ em ở trường cũng như ở gia đình.

-100 % trẻ được giáo dục, chăm sóc nuôi dưỡng tốt, được bảo vệ sức khỏe, được bảo đảm an toàn, phòng bệnh, được theo dõi cân đo bằng biểu đồ phát triển.

-90% trẻ luôn có kết quả tốt trong học tập thông qua kết quả học tập cũng như bảng theo dõi ở mỗi lớp , sau mỗi giai đoạn, qua kết quả kiểm tra đánh giá chất lượng sau mỗi chủ đề đối với từng học sinh đạt khá và tốt:

* Mạnh dạn tự tin: 90 %

* Kỹ năng hợp tác: 93 %

* Kỹ năng giao tiếp: 92,3 %

* Tự lập, tự phục vụ: 99 %

* Lễ phép: 100%

* Kỹ năng vệ sinh: 92 %

* Kỹ năng thích khám phá học hỏi : 86 %

* Kỹ năng tự kiểm soát bản thân: 90 %

Từ việc giáo dục kỹ năng sống như đã trình bày trên, học sinh đi học đều hơn, đạt tỷ lệ chuyên cần từ 99% trở lên và ít gặp khó khăn khi đến lớp, có kỹ năng lao động tự phục vụ cho bản thân, biết thương yêu bạn bè trong cùng một mái trường, biết giúp đỡ bạn cùng tiến bộ trong học tập và sinh hoạt hàng ngày.

V/ Kết luận:

Rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh là một việc làm hết sức cần thiết của xã hội, các em không chỉ biết học giỏi về kiến thức mà còn phải được tôi luyện những kĩ năng sống qua đó tạo cho các em một môi trường lành mạnh, an toàn, tích cực và vui vẻ.Việc giáo dục kĩ năng sống ngay từ lớp nhỏ sẽ rút ngắn thời gian để trang bị cho các em vốn kiến thức, kĩ năng, giá trị sống để làm hành trang bước vào đời. Chính vì vậy, các thầy cô giáo tiểu học luôn giữ vai trò vô cùng quan trọng. Vì thế theo tôi, để làm tốt việc rèn kĩ năng sống cho học sinh, mỗi thầy cô giáo cần phải:

– Xác định rõ tầm quan trọng của việc rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh.

– Nắm vững những đặc trưng về phương pháp và hình thức tổ chức dạy các kĩ năng giao tiếp, ứng xử vào các môn học và các hoạt động khác.

-Tập trung vào việc đầu tư sọan giảng, lồng ghép KNS vào các môn học.

– Luôn tạo mọi điều kiện để các em có thể bày tỏ, thể hiện mình, tham gia tốt các buổi hoạt động ngoại khóa của trường, lớp.

– Điều quan trọng là mỗi thầy cô giáo phải rèn cho mình tác phong sinh hoạt chuẩn mực, phải hết lòng thương yêu, gần gũi với học sinh.

Sống và yêu học tập, lao động, vui chơi là những vấn đề thiết yếu mà tôi luôn cố gắng để ươm mầm cho thế hệ trẻ. Bởi trẻ em là hạnh phúc của gia đình, tương lai của đất nước, là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc, là nhân tố để cây đời mãi mãi xanh tươi. Việc chăm sóc và giáo dục trẻ em, bồi dưỡng trẻ em trở thành công dân tốt của đất nước, từng bước hội nhập công dân toàn cầu là một công việc vô cùng quan trọng mà mỗi giáo viên chúng ta phải cùng có trách nhiệm cao.

VI/ Bài học kinh nghiệm:

Với tinh thần trách nhiệm và lòng nhiệt huyết trong công việc, tinh thần phối kết hợp tốt giữa các tổ chức nhà trường, đoàn thể thì việc đạt được kết quả cao trong công tác giáo dục các em là điều hiển nhiên. Từ những kết quả đã đạt được, tôi có những đúc rút bài học nhỏ mà rất cần chú ý tập trung, đó là:

Một là: Cần hiểu rõ tầm quan trọng của việc rèn luyện kĩ năng sống cho các em học sinh, tạo một chỗ dựa vững chắc để trẻ chia sẻ, bày tỏ tâm tư tình cảm cá nhân.

Hai là: Luôn phối kết hợp tốt với nhà trường và mọi tổ chức đoàn thể trong việc giáo dục và rèn luyện cho các em, theo dõi mọi biểu hiện diễn biến tâm tư tình cam của trẻ để có sự giáo dục cho phù hợp và kịp thời vì lứa tuổi các em còn suy nghĩ kiểu máy móc, rập khuôn (nghĩ gì nói đó).

Ba là: Giáo viên phải thật sự như là người cha, người mẹ, người luôn là niềm tin để làm chỗ dựa cho các em.

Bốn là: Phải thực tế hoá công việc; mọi kế hoạch, hoạt động không chỉ năm trên giấy tờ mà phải diễn ra hài hoà, sâu sát để trở thành thói quen hàng ngày với các em, từng bước tạo lối sống và làm việc khoa học.

Năm là: Phải chú ý đến việc động viên khích lệ; khen hay chê đều phải mang tính công bằng, khơi dậy tinh thần. Tuyệt đối không so đo vì mỗi một học sinh có một năng lực, sức khoẻ và tố chất không đồng đều.

Với việc rút ra được bài học rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh mà tôi đã nêu trên cũng chính là nhiệm vụ, công việc thường xuyên của đội ngũ giáo viên từ nhiều năm nay. Tuy nhiên, biện pháp thực hiện rèn luyện đó của tôi và đồng nghiệp ở những năm học đã qua tuy có đạt kết quả đáng khích lệ nhưng vẫn còn thiếu những biện pháp khác cụ thể hơn, hiệu quả hơn. Vì vậy, tôi kính đề nghị một số vấn đề sau:

-Về phía nhà trường: Theo phương châm giáo dục hiện nay là: “Học để biết, học để chung sống, học để tự khẳng định mình” nên: Nhà trường luôn phát động phong trào này hơn nữa dưới nhiều hình thức phong phú hơn để tạo môi trường học tập, trải nghiệm cho các em tốt hơn.

Về phía phụ huynh : Trước hết là cần hiểu rõ tầm quan trọng của việc rèn luyện kĩ năng sống cho con em, tạo môi trường học tập tốt với cộng đồng để trẻ chia sẻ, bày tỏ. Luôn phối kết hợp với nhà trường và tổ chức đoàn thể trong việc giáo dục và rèn luyện cho các em, theo dõi mọi biểu hiện diễn biến tâm tư tình cam của trẻ để có sự giáo dục cho phù hợp.

– Về phía chính quyền địa phương, các cấp các ngành và mọi tổ chức đoàn thể tích cực hơn nữa trong việc hưởng ứng công tác xã hội hoá giáo dục. Tích cực tạo mọi điều kiện thuận lợi để nhà trường xây dựng kế hoạch hành động giáo dục kĩ năng sống cho các em học sinh nội trú hiệu quả cao, nhằm từng bước góp phần nâng cao chất cuộc sống sinh hoạt, chất lượng học tập và rèn luyện cho học sinh cao hơn.

Vì vậy, việc từng bước giáo dục kĩ năng sống cho hoc sinh là rất cần thiết, giúp các em trở thành Đội viên thiếu niên đảm bảo hành trang để tiếp tục nhiệm vụ học tập và rèn luyện ở tầm cao mới. Xây dựng cho các em năng lực tốt, lối sống lành mạnh để các em có thể tự lập, tự tin hơn trong cuộc sống, đem lại niềm vui, hạnh phúc cho các em, gia đình và xã hội. Tích cực hướng tới học tập và rèn luyện để trở thành công dân có ích, trở thành công dân hội nhập toàn cầu.

Rạch Giá, ngày 10 tháng 03 năm 2020

Người viết

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button